Previous
Next

AKHPC - 60 Năm EVN

NGUỒN SÁNG NƠI ĐẠI NGÀN

Nếu có dịp dạo một vòng quanh lòng hồ An Khê và lòng hồ Ka Nak bằng ca nô, nghe âm vang của dòng sông cùng với dòng nước trắng xóa hòa vào những đám mây lơ lững giữa đại ngàn hùng vĩ, chúng ta mới cảm nhận được hết sự kỳ diệu của bàn tay con người khi xây lên một công trình Thủy điện An Khê – Ka Nak mang tầm cỡ quốc gia, mang lại “nguồn sáng” cho mọi nhà. Để có được những thành quả lớn lao như hôm nay, chúng tôi – bao thế hệ của lính thủy điện đã trải qua bao thử thách cam go, dường như những ngày tháng khắc nghiệt của rừng núi không làm nản lòng của những người đã từng chặn dòng, ngăn sông, khơi mạch chảy đưa nước về ruộng đồng của bao miền quê khi đến mùa khô hạn và ngăn được lũ lụt khi mùa mưa đến.

Dĩ nhiên, khi viết những dòng cảm xúc này, tôi vẫn biết có hàng trăm nghề nghiệp tồn tại và có bấy nhiêu sự vất vả, gian nguy chất chứa trong bản thân người làm nghề đó, nhưng mời các bạn trải nghiệm cùng tôi về lính thủy điện để có cái nhìn khách quan, bao dung hơn với ngành điện nói chung và lính thủy điện nói riêng chúng tôi.

Các bạn cũng biết rằng, làm thủy điện là đi khai phá những vùng đất hoang vu, bao quanh là đồi núi trùng điệp, không có hoặc rất ít cư dân sinh sống gần khu vực nhà máy xây dựng. Chính những anh lính thủy điện đã cùng bao anh lính xây dựng khai phá những ngọn núi và mảnh đất hoang sơ, xây lên những con đường, bao công trình mới, họ như những viên gạch hồng đặt nền móng cho sự phồn thịnh của mảnh đất tưởng chừng khô cằn đó.

Nếu không được trực tiếp chứng kiến từ những ngày đầu khai phá, hẳn các bạn không thể tưởng tượng nỗi để có một công trình tích hợp từ đường hầm áp lực, tháp điều áp, cầu trục chân dê, đập tràn, đập dâng … và cụm Nhà máy vận hành thiết bị - mỗi hạng mục ấy cách nhau vài km, đồi núi cách trở như muốn thử thách, trêu ngươi ý chí của con người. Phải trực tiếp nằm gai nếm mật mới thấu hiểu hết nỗi cơ cực của những người xây dựng thủy điện, bỏ lại vợ con, nhà cửa, họ đi xây dựng nhà máy thủy điện như là nghiệp, như mạch máu truyền khắp nuôi cơ thể, để rồi có người cả tháng, thậm chí vài ba tháng chỉ kịp tạt qua nhà 1-2 ngày thăm gia đình rồi lại lao đi để kịp bám sát tiến độ cấp trên giao. Nhưng vượt lên tất cả, lính thủy điện vẫn luôn lạc quan, vẫn luôn hát vang khúc ca rộn ràng “cuộc đời vẫn đẹp sao”.

Một công trình thủy điện nếu suôn sẻ về mọi mặt (nhà thầu có năng lực, tiến độ cung cấp thiết bị theo đúng hợp đồng) thì ít nhất mất 5 năm, còn nếu vướng trục trặc, đặc biệt là công tác di dân, tái định cư, thiếu vốn, chậm vốn thì thậm chí phải mất 7 đến 15 năm – thời gian không quá dài nhưng sống trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt, công việc với sự độc hại, nguy hiểm thì hẳn như khoảng thời gian ấy cũng đằng đẳng lắm.

Ví như công trình Thủy điện Hòa Bình – một công trình thế kỷ đã lấy đi bao nhiêu mồ hôi, nước mắt và thậm chí là sự sống của hàng trăm công nhân, trong đó có những chuyên gia Liên Xô đến hỗ trợ. Tôi còn nhớ cái lần được đi thăm quan công trình Thủy điện ấy, có một bia tưởng niệm khắc tên những công nhân, chuyên gia xấu số đã hi sinh mạng sống để dòng điện hòa lưới điện quốc gia truyền tải khắp đất nước Việt Nam. Có tận mắt chứng kiến để trải nghiệm mới thấm thía nỗi khổ cực của lính thủy điện nói riêng và của CBCNV ngành Điện lực Việt Nam nói chung.

Làm thế nào để dân hiểu, dân tin và sẵn sàng nhường đất xây dựng Nhà máy Thủy điện cũng là một điểm then chốt của lính thủy điện. Họ sẵn sàng đến các bản làng, động viên, giải thích lợi ích của việc xây dựng nhà máy thủy điện. Dĩ nhiên, khi bà con nhường đất cho công trình thì bà con cũng được chuyển đến một khu tái định cư khang trang và văn minh hơn. Nhưng có bao nhiêu công trình thủy điện thì có bấy nhiêu câu chuyện đền bù – tái định cư. Xã hội càng phát triển, con người ngày càng tiếp thu được những tiến bộ của nhân loại nên nhu cầu đòi hỏi của “đồng bào” cũng cao hơn, họ không thực sự dễ hợp tác. Ngày nay, tái định cư cho dân vùng có dự án thủy điện không chỉ đơn thuần là cấp đất, xây nhà, trao tiền đền bù là xong. Song song với tái định cư thì phải tái định canh, câu chuyện gìn giữ văn hóa và sinh kế lâu dài của dân vùng có dự án thủy điện luôn là một bài toán khó, nếu không thực sự hiểu dân, gần dân thì lính thủy điện khó có thể điều hòa và giải quyết vẹn toàn.

Và khi công trình đi vào vận hành, lính thủy điện tưởng như công việc nhẹ nhàng rồi, chỉ thực hiện thao tác bấm nút và ngồi chờ đến hết ca, nhưng kỳ thực không phải vậy. Có lần tôi đem câu chuyện trên ra đùa, tôi bảo từ giờ một ca trực (gồm trưởng ca, trực chính, trực phụ) nhàn hạ rồi nhỉ, chỉ thực hiện thao tác bấm nút thôi. Anh Trưởng ca dí dỏm đáp, em cứ thử lên ngồi trực ca với tụi anh thôi, em thấy nó “nhàn hạ” thế nào, “nhàn hạ” đến nỗi trong ca trực, bọn anh chong mắt, căng tai và đôi khi tim đập thình thịch. Tôi bảo anh quá lời rồi. Anh đáp trả: không quá đâu em, máy móc nó không biết kêu như con người khi đau ốm, cho dù trong mỗi ca trực đồng nghiệp đã kiểm tra kỹ lưỡng nhưng biết đâu sự cố bất ngờ xảy ra, nó có thể gây nên tổn thất to lớn về người và của nếu ca trực nhận diện sai tính chất của sự việc, đó là lí do mà tụi anh phải căng tai ra để nghe, nghe xem máy quay có đều không, có tiếng ồn nào bất thường không, chong mắt nhìn màn hình hiển thị xem có hệ thống nào báo lỗi không. Chỉ khi giao ca xong, tụi anh mới cảm thấy nhẹ nhõm. Tôi ồ lên tỏ vẻ ngạc nhiên, thì ra bao lâu nay tôi nghĩ nhà máy xây dựng xong, các đồng nghiệp sẽ nhàn hơn, nhưng mà mỗi giai đoạn, tính chất công việc khác nhau, nên hết âu lo này, nối tiếp âu lo khác. Anh trưởng ca lại tiếp lời, đó là khi chưa kể đến mùa mưa lũ, ca trực lại cảm thấy áp lực gấp nhiều lần, lưu lượng về hồ lớn mà cắt lũ không thành công thì nước dâng cao, tràn qua cửa xả chảy về hạ du khiến ngập ruộng nương, nhà cửa của bà con.

Và trận lũ lịch sử tháng 11/2013 vừa qua là một minh chứng – giọng anh trưởng ca chùng lại, khi lưu lượng về hồ quá nhanh, nó gây sạt lở kênh xả, kênh dẫn, và rồi như một dòng thác lớn, nó nhấn chìm luôn cả Nhà máy Thủy điện An Khê chỉ trong mấy tiếng. Lần đầu tiên trong lịch sử ngành điện, một nhà máy lớn bị trận lũ quét vùi lấp bởi đất và cát. Và hành trình vực dậy Nhà máy An Khê theo như dự đoán của một số đoàn khảo sát thì ít nhất phải mất 3 tháng, nhưng với sự đoàn kết, đồng lòng đồng sức và sự giúp đỡ, hỗ trợ nhiệt tình của các đơn vị trong mái nhà chung của EVN và GENCO 2, Nhà máy An Khê hòa lưới điện quốc gia sau 45 ngày đêm đồng nghiệp dầm mình trong bùn lầy để tìm máy móc, lau chùi và thử nghiệm thiết bị. Đó là cả một hành trình gian nan, tất cả đồng nghiệp ở lại công trường, bám chốt, thay ca nhau vì mái nhà An Khê – Ka Nak. Chính Giám đốc Công ty đã không quản ngại bùn lầy, dầm mình trong mưa lũ để cùng CBCNV vượt qua thời khắc khó khăn đó vì lợi ích mà ngành thủy điện mang lại cho nước nhà - thúc đẩy các khả năng kinh tế, bảo tồn các hệ sinh thái, cung cấp một nguồn năng lượng sạch, góp phần vào phát triển bền vững, sử dụng nước đa mục tiêu, phát triển cơ sở hạ tầng và cải thiện công bằng xã hội.

Bấy nhiêu câu chuyện có làm các bạn cảm nhận hết được sự vất vả của lính thủy điện chưa, thực lòng lính thủy điện không “sướng” chút nào, nhưng vì dòng điện quốc gia, vì “thứ ánh sáng lung linh huyền ảo” ấy có thể giúp hàng triệu người thoát khỏi bóng tối, để hôm nay, ngày mai dòng điện lại truyền khắp mọi nẻo đường của Tổ quốc, tất cả lính thủy điện không kêu than mà cảm thấy tự hào, tự hào vì được góp phần công sức nhỏ bé của mình vào sự phồn vinh của đất nước.

Mới đó mà đã gần 60 năm ngành điện lực Việt Nam tồn tại và phát triển, ngành điện cũng như bao ngành khác có những bước chuyển mình để thích ứng với sự phát triển của đất nước. Có thể khẳng định rằng, ngành điện là một ngành kinh tế trọng điểm của đất nước đã chứng tỏ được vai trò chủ đạo trong cung cấp điện cho phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, góp phần quan trọng trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong giai đoạn mới, hạn chế được hạn hán, lũ lụt ở vùng hạ du.

Chúc cho những đồng nghiệp của ngành điện nói chung và thủy điện nói riêng dồi dào sức khỏe để cùng chung tay xây dựng mái nhà EVN ngày một vững mạnh. Xin được chia sẻ nỗi vất vả, gian lao của các anh công nhân ngành điện và gia đình của họ. Mong các anh luôn là “người giữ nguồn sáng” cho ngày nay và ngày mai của Tổ quốc.

                                                                                                                 Nguyễn Thị Phương Hiền
                                                                                                                 Phòng Tổ chức - Lao động

Tác giả: Nguyễn Thị Phương Hiền ; Xuất bản: 04/04/2014 03:24
Họ tên của bạn
Địa chỉ Email
Tiêu đề
Nội dung
Mã xác nhận
Gửi nhận xét